Phi Khanh & Nguyễn Trãi (HẬN NAM QUAN)

Huệ Thu

Nhân đọc vở kịch thơ RỬA HẬN NAM QUAN Của HCT và
Đường Sơn, Huệ Thu cũng mượn những nhân vật này và viết
một kịch thơ “HẬN NAM QUAN” , thay vì viết bằng thể Thất Ngôn
Bát Cú , HT viết bằng nhiều thể khác nhau cho dễ diễn tả
hơn
:

Nguyễn Phi Khanh :

Con ơi ! Con hãy cứ về đi
Mối hận triền miên vô hạn kỳ
Chưa trả thù nhà, đền nợ nước
Làm sao cho xứng mặt nam nhi ?

Cha đi dù biết không về nữa
Con sẽ vì cha trả hận này
Non nước trông chờ trang tuấn kiệt
Con cha đâu lẽ đứng khoanh tay

Con hãy về đi, quyết liệt đi
Lẽ đâu khóc lóc lúc phân kỳ?
Mai sau sử chép con vì bố,
Vì nước đâu nề chuyện hiểm nguy !

Nguyễn Trãi
chắp tay vái :

Con tuân lời dặn của cha già
Mỗi bước từ đây một bước xa
Có lẽ chẳng bao giờ gặp lại
Nhưng con không phụ tấm lòng cha

Con đem bút mực làm giông tố
Kêu gọi toàn dân hãy đứng lên
Trai gái trẻ già chung bổn phận
Nỗi hờn vong quốc lẽ nào quên ?

Con lạy cha già ngàn vạn lạy
Xin cha hiểu thấu tấm lòng con
Tấm lòng chung thủy sau như trước
Sau trước xin thề dạ sắt son .

Nguyễn Phi Khanh: 

Thôi lấy hôm nay làm húy nhật
Con về hãy nhớ phận làm trai
Chữ trung, chữ hiếu hai vai nặng
Mà chữ Giang Sơn vạn dặm dài

Về đi ! Thực hiện lời cha dạy
Đoàn kết toàn dân hãy đứng lên
Xác bỏ quê người cha hả dạ
Giang sơn đất nước sẽ lâu bền

Màn Hai 
Thị Lộ và Nguyễn Trãi

Thị Lộ:

Sách thánh hiền xưa dạy những gì ?
Làm sao cho xứng chữ nam nhi
Làm sao lão phụ từ muôn dặm
Lời hịch truyền theo những bước đi !

Nguyễn Trãi (nói lớn)

Nàng đã đọc Bình Ngô Đại Cáo ?
Lấy chí nhân làm đạo rèn quân
Chiến tranh xương máu là cần
Nhưng cần hơn cả:
Tinh thần vị tha
Bọn chủ soái mới là thù địch
Còn những hàng quân dịch đáng thương
Quân ta giữ lấy đạo thường
Mạng người là trọng, yêu thương là nền
Đem mạng sống báo đền Tổ Quốc
Đức với nhân là đuốc soi chung
Ngàn năm một tiếng anh hùng
Thắng dùng tâm trí hơn đường binh đao .

Thị Lộ:

Tâm chàng như thiết thạch
Lời chàng như trăng sao
Ta cùng tất cả đồng bào
Lấy câu nhân nghĩa làm câu giữ mình
Chí là thế mà tình là thế
Thật không còn có kế nào hơn
Chàng đi cứu lấy giang sơn
Thiếp về canh cửi chẳng sờn lòng tin

Màn Ba 

Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn 

Nguyễn Trãi:

Tôi nghe nói dụng binh cần tín nghĩa
Giặc tuy đông nhưng chính nghĩa về ta
Bọn cướp nước sẽ bị đời mai mỉa
Ta vì dân nhất định cứu sơn hà
Chính nghĩa ở đâu mà có ?
Quân hùng là cậy vào ai ?
Nếu thiếu minh quân, lương tướng
Con đường sẽ lắm chông gai

Trần Nguyên Hãn:

Tiên sinh nói chí phải
Xin tiên sinh nhận cho đây một lạy
Để Hãn này tỏ hết nguồn cơn
Tôi nghe đâu ở núi Lam Sơn
Kẻ áo vải họ Lê đang dấy nghiệp
Chỉ một sớm mà trùng trùng điệp điệp
Quân các nơi vì nghĩa rủ nhau về
Họ Lê tuy áo vải chốn thôn quê
Nhưng chí lớn lại bao trùm thiên hạ
Đuổi xâm lăng nào có khó gì đâu !

Nguyễn Trãi (đỡ Tràn Nguyên Hãn dậy) 

Xin tiên sinh đừng đa lễ
Trãi đã từ lâu
Đi tìm minh chủ
Nếu tiên sinh không chê kẻ này
Tài chưa đủ
Đức chưa cao
Thì đành vậy .
Nhưng nếu cho rằng:
Lòng Trãi như trăng sao
Một lòng vì Tổ Quốc
Thì xin lấy thân này
Tiên phong cầm đuốc
Vượt nguy nan tranh đấu đến thành công
Hai chúng ta nếu đã quyết một lòng
Thì hãy tới Lam Sơn tìm Lê Lợi …

Giữa đường có tiếng hát của dân quê : 

Vào Thanh Hóa đường xa diệu vợi
Trại Lam Sơn đang đợi chờ ta
Đường gần xin chớ ngại xa
Việt (Đại) Nam muôn dặm sơn hà của chung

Nguyễn Trãi :

Dân đã quyết một lòng
Còn gì mạnh hơn được
Thù ngoài và giặc trong
Diệt tan đền nợ nước

Cả Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi cùng hát : 

Chúng ta nguyện một lời thề
Không thành công sẽ không về sông Chu *

Màn Bốn 

Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi và Lê Lợi gặp nhau : 

Lê Lợi:

Ta vốn dân áo vải
Căm thù giặc Trung Hoa
Coi dân như tôi mọi
Tự nhiên gây can qua
Bất đắc dĩ đứng dậy
Cùng anh em muôn nhà
Thề diệt hết giặc nước
Muôn dân hưởng thái hòa

Nguyễn Trãi :

Thân giữa đường nghe dân chúng hát
Lóng tường quân như bát nước đầy
Tài hèn cũng quyết về đây
Xin đem chữ nghĩa phơi bày ruột gan

(Trình lên kế sách giết giặc)
Lê Lợi cầm xem cả cuời: 

Ta may mắn gặp trang quốc sĩ
Có duyên kia vốn dĩ mệnh trời
Quân dân, đem ghế mời ngồi
Từ nay xin lắng nghe lời tướng quân

Chợt ngẩng lên thấy Trần Nguyên Hãn : 

Còn tướng quân ?

Tràn Nguyên Hãn quỳ xuống : 

Kẻ tiện sĩ họ Trần tên Hãn
Biết múa gươm chém tướng trận tiền
Ngày hôm nay nhờ một mối lương duyên
Thần được tới làm vây, làm cánh

Lê Lợi
Đứng lên , dơ gươm : 

Quyết đánh ! Chúng ta quyết đánh !
Đánh quân Tầu dành lại giang sơn

Có tiếng quân sĩ reo hò
(Trỗi một bản hùng ca) màn hạ

Màn Năm 

Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, các tướng
và quân lính .

Lê Lợi:

Quân ta đã bao vây từ bốn phía
Giặc làm sao có thể thoát vòng vây
Các anh em gắng sức một phen này
Cờ chiến thắng sẽ về tay ta mãi

Có tiếng quân sĩ hò reo vang dậy:

Quyết Thắng

(Tiếng gươm đao, khói lửa ngút trời
Bỗng có tiếng reo hò vang dội :

Quân Ta Đại Thắng

Lê Lợi ngồi giữa, Nguyễn Trãi ngồi bên : 

Quân ta đã thắng
Nước ta vinh quang
Nếm bao cay đắng
Ngày nay huy hoàng

Nguyễn Trãi:

Thưa chủ tướng
Thắng ta không kiêu
Vì ta nhân nghĩa
Thương dân bao nhiêu
Đổ bao máu lệ
Ta bắt đắc dĩ phải ra ứng chiến
Nhưng chiến tranh không phải chuyuện nên làm
Tầu đông dân hơn hẳn nước Vietnam
Ta phải lấy lẽ hòa bình làm gốc
Xin cử Sứ sang Tầu lập nên hòa ước
Không còn ai xâm lược đất đai người …

Có tiếng hát :

Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem trăng sáng giải lên vườn chè …**

Màn sáu 

Vua Lê Lợi lên ngôi
Bá quan văn võ mở tiệc mừng

Lê Lợi :

Nước Việt Nam ta từ nay thống nhất
Núi sông ta ruộng dất của ta
Bắc Nam từ trẻ đến gìa
Xóm làng no ấm ngợi ca thái bình

Nguyễn Trãi :

Ta nhờ có lòng thành trên hết
Có muôn dân đoàn kết mà thành
Có câu lá rách lá lành
Núi sông ai dễ lại dành của ta

(Có tiếng reo hò, nhạc vui, màn từ từ hạ)

  • tên một con sông chảy qua đất Lam Sơn
    ** thơ Nguyễn Bính

HuệThu 

Đã xem 87 lần.

1 Comment

  1. Phi Khanh & Nguyễn Trãi ( HẬN NAM QUAN )
    Bùi Thảo Jul 28, 2010

    Câu: Tầu đông dân hơn hẳn nước Vietnam
    Danh từ Tầu chưa hẳn đã dùng vào thời đó. Trong giới bình dân thời đó ta thường gọi là chú khách và trong ngôn ngữ dân gian vẫn gọi người Hán là Ngô. Danh từ « người Ngô » dùng để chỉ người Trung quốc có từ trước thời Nguyễn Trãi, vì thế Nguyễn Trãi mới viết « Bình Ngô đại cáo »; trong thành ngữ dân gian cũng có nhiều câu liên quan đến nước Ngô:
    “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”.
    “Đầu Ngô mình Sở”
    “Nói Ngô nói ngọng”
    Hoặc là nói quân nhà Minh. Còn danh từ Vietnam là danh từ trong tiếng Anh. Đây là ý kiến riêng có ai giải thích thêm dùm. Trân trọng.

    Phi Khanh & Nguyễn Trãi ( HẬN NAM QUAN )
    Bùi Thảo Jul 28, 2010

    Theo tôi nghĩ hai chữ Việt Nam vào thế kỷ thứ 15 chưa dùng tới. Nếu cô Huệ Thu dùng hai chữ Đại Việt mới hợp lý hơn.

Bình luận/Xướng hoạ