Trống Quơ Trống Quác

Trần Vấn Lệ

Không phải tới tuổi tàn đời xế bóng tôi mới nói:  Tôi thích đi Chùa mà không vào Chùa. Với tôi, Chùa là Cửa Không, là Vô Môn Quan.  Ngay ở tuổi Xuân xanh, tôi từng đứng trên bậc cấp của Chùa Linh Phong nhìn xuống thung lũng Trại Hầm.  Tôi biết đây là Chùa Sư Nữ ở Đà Lạt, người trụ trì Chùa là một Sư Bà – người ta gọi thế, tôi thì…không biết gọi sao, Sư là Thầy, là người đàn ông mà!  Tôi thấy Sư Bà nhiều lần nhưng tôi chưa một lần diện kiến.  Tôi không thích mình tự giới thiệu nếu phải gạp Sư Bà…(thật sự thì tôi chẳng có gì để tự nói về mình).  Tôi biết không ai muốn nghe tôi đang nói: dưới lũng sâu kia có mây bay…Tôi không là “thí chủ”, tôi chưa bao giờ là “tín đồ”.  Không ai giúp tôi có Niềm Tin.  Tôi không tin gì cả, không tin gì nữa…

Mây bay dưới thung lũng.  Tôi ước chi mình là mây…nhưng đừng thành mưa.  Tôi sợ mưa ướt áo những người đi đường.  Tôi thương những mái tóc của những người con gái, tôi nói khi trời mưa:  tóc của người đàn bà nào cũng là Suối Tóc!

Bạn à, bạn có bao giờ ngắm rừng thông Đà Lạt trong cơn bão…rớt chưa?  Cây thông cao, to, xanh mướt thế mà đều rạp đầu xuống như mái tóc của Mẹ Âu Cơ xõa ra che năm mươi đứa con còn lại.  Năm mươi đứa con ấy, bốn, năm ngàn năm rồi không thêm tuổi nào.  Nghe nói hiện nay, nước mình có năm mươi bộ tộc người, như vậy là có…bốn đứa bỏ Cha Lạc Long Quân trở về nép Mẹ Âu Cơ?  Cha Lạc Long Quân đúng là người cầm đầu lạc lõng quân, tan đàn xẻ nghé!  Bốn mươi ba năm, gió mưa thành nước mắt…nhưng tiếng sóng đại dương mãi mãi là tiếng cười khả ố!

Tôi có một em học trò tu ở chùa Linh Phong.  Tôi không quên em được.  Em là Hoàng Thị Kim Chung.  Khi đến trường, học tôi, năm 1961, em cạo đầu nhưng còn một chỏm tóc.  Tôi không biết gọi em thế nào cho đúng “lễ nghi”, tôi cứ gọi em là em, Kim Chung của Thầy.  Em học rất giỏi.  Nhất là môn Luận Văn (hồi đó kêu là Tập Làm Văn), tôi chấm bài em, tôi để cả tuần lễ xem đi xem lại, tôi muốn bắt cho được một lỗi nào đó, dấu phẩy chẳng hạn…mà tôi thua!  Tôi phê trên bài làm của em:  “không sửa được lỗi nào” và tôi cho em mười điểm trên mười!

Cách nay năm năm, tình cờ qua internet, tôi gặp một người gọi tôi là Thầy.  Tôi mừng, không phải vì mình được “kính trọng” mà mừng vì không cô đơn!  Em đó cho tôi số telephone, số ở Canada. Tôi gọi qua, em cho biết em là em của anh Phúc, học trò của tôi, em đi tu từ năm 9 tuổi, em tu ở quê nhà, cả nhiều năm sau 4-1975, em vượt biên trước tháng 4-1989, em đến Canada…tu tiếp!  Hiện nơi em ở là Chùa Huyền Không ở ngay thành phố Mont Real, Canada, em là Trụ Trì, em lập ra ngôi Chùa này qua sự tiếp sức của đồng bào, em là Đại Đức Thích Minh Thông…Tôi:  “Ồ!  Thầy xưng hô với em làm sao đây?”.  Em cười trong máy:  “Thầy cứ kêu em là thằng Thành!  Dù không học Thầy nhưng em nhớ Thầy từng mua cà rem cho em ăn…”.

Rồi, chúng tôi ấm lòng ấm dạ. Em kể chuyện nhà, chuyện nước cho tôi nghe (vì sau 4-1975…tôi đi du học nhiều năm), tôi qua Mỹ năm 1989, tôi muốn hỏi thăm những bà con cô bác ở Trại Hầm, nhất là anh chị em trong nhà bà Năm Tụy, Má em, tôi kính trọng như Mẹ vì Bà đang ăn tô bún, thấy tôi bước vào nhà: “Thầy ăn bún nha” và Bà đưa tôi tô bún đó…Bà năm Tụy mất sau ông  Năm Tụy.  Chị Cẩm Vân dẫn con gái là Ruby đi vượt biên.  Anh Liệu, ba Ruby tan hàng, bệnh, mất.  Anh Chị Thành, con gái và con rễ của Bà cũng mất.  Nhà còn ba người:  Chị Lan đi tu, anh Phúc có vợ trông coi nhà tự, em Thành…thì tu và chắc tu luôn…Em nói cái lý do em tu hành mà sao em bỏ nước ra đi, thề không trở lại.  Tôi không nhắc làm chi, đau và buồn lắm.  Điều tôi thấy lòng mình tan nát thật sự là khi tôi hỏi thăm em về Hoàng Thị Kim Chung, em nói “Chỉ mất rồi, trong năm đói nhất, chỉ ăn rau rừng và đau bụng…rồi đi luôn!”.  Chúng tôi chỉ còn nước mắt!  Tôi nhớ quá đi lá thông bay trên mái chùa Linh Phong…Tôi nhớ quá đi Thầy Nguyễn Đức Thiệu, Thầy Bùi Văn Ân, cô Trịnh Thị Ngọc Liên, Thầy Đặng Đình Bách, Cô Tôn Nữ Hoàng Hoa, Thầy Lê Huyền, Cô Lê Hiền Hòa, Thầy Nguyễn Văn Nghiêm, Thầy Văn Thế Nhiệm, Thầy Thái văn Tỵ, Thầy Tăng Ngọc Kính, Thầy Phạm Văn Mạnh, Thầy Nguyễn Tấn Tiến, Cô Nguyễn Thị Ngọ…Tôi không quên học trò của tôi, nhiều em đang-làm-lớn, nhiều em tả tơi…Tôi nhớ Cha Mẹ học trò:  ông bà Ba Ý, ông Tăng Văn Danh, ông Nguyễn Bá Sang, bà Ba Đành, ông Bà tiệm buôn Đông Á…Tôi nhớ con đường Hoàng Hoa Thám, cuối con đường là nhà ông Ngô Hồng, trước mặt nhà ông Ngô Hồng, trên đồi thông:  Chùa Linh Phong!

Nãy giờ, tôi đi lan man, bây giờ tôi nhắc lại chùa Linh Phong.  Linh…chắc là Linh Hiển?  Tôi nhớ Chùa Linh Sơn, tôi nhớ chùa Linh Quang, tôi nhớ trường Tuệ Quang, trường Bồ Đề…Tôi có gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại chùa Kim Sơn trên phía bắc California cách nay hơn mười năm.  Tôi chào Thầy Nhất Hạnh bình thường khi nhiều người khúm núm (bởi Thầy Nhất Hạnh nổi tiếng quá!).  Tôi quen Thầy Nhất Hạnh hồi Thầy dạy trường Bồ Đề Đà Lạt.  năm tôi gặp Thầy Nhất Hạnh, tôi ở chùa Kim Sơn đàm đạo cùng Thầy Thích Tịnh Từ mấy ngày đêm giữa cảnh rừng núi cheo leo heo hút…Chùa Kim Sơn cảnh trí giống như Đà Lạt.  Theo tôi biết:  Thầy Thích Mãn Giác là người phát hiện cảnh non nước này và Thầy Thích Tịnh Từ là học trò của Thầy Mãn Giác.  Tôi có thăm Thầy Mãn Giác lúc Thầy không còn biết gì nữa…Thầy nằm trong quan tài để ngay tại Chùa Việt Nam ở Los Angeles và sau đó Thầy được hỏa thiêu tại Đồi Hồng, Rose Hill California.  Thầy Mãn Giác có bút hiệu là Huyền Không vì Thầy xuất thân từ chùa Huyền Không ở Huế.  Minh Thông trụ trì chùa Huyền Không ở Canada cũng từng tu tập tại chùa này…cho nên lấy tên chùa mình là Huyền Không!  Sắc tức thị Không, là vậy!

*
Lâu lắm tôi không qua chùa Việt Nam ở Los Angeles. Không còn Thầy Mãn Giác, tôi không có cớ gì để gõ cửa một cách thân quen như hồi nào…Tôi dị ứng với những khuôn mặt lạnh lùng…vì tôi và họ, họ và tôi đều lạ lùng!  Tôi không dị ứng thì họ cũng dị ứng thôi!  Mà nghĩ…tha hương khó gặp cố tri lắm.  Qua một thế hệ, rồi thế hệ rưỡi, bây giờ thì hai thế hệ, biết bao ngỡ ngàng…Nhiều người gốc đạo Phật, bỏ ngang theo đạo Tin Lành, vui hơn và khỏi bệnh…trầm cảm!  Tôi không có đạo nào cả, tôi tín và ngưỡng mộ Chúa, Phật như nhau, phó thác đời mình cho Trời.  Cái Đạo Vuông Tròn còn thấy nồng nàn trong ba ngày Tết với bánh chưng, bánh dày…Vuông là Đất, tròn là Trời.  Tôi nhớ ông Đồ Chiếu có thơ vinh danh ông Phan Thanh Giản, tôi thấm thía hai câu:  “Minh sinh chín chữ lòng son tạc, trời đất từ nay mặc gió Thu”.  Chín chữ…hình như là “Thư Sinh Hàn Nho Phan Thanh Giản Chi Mộ”?  Chín chữ Cù Lao thì ai cũng cũng có và…cũng quên!  Người xưa, ngộ ghê:  Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Ông Ích Khiêm, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương…đều là công thần, đại công thần…không ai có biệt phủ!  Đến như Lê Văn Duyệt thác rồi, hiển linh, dân chúng lập mộ gió cho Ông nay còn Lăng Ông!

Quanh đi quẫn lại tôi cũng nhớ về Đà Lạt.  Bây giờ trước cảnh rừng tàn núi tạ chắc là nhiều khoảng trống trơ trống quác…Thương quá…

những con chim rừng thương cây nhớ cội!  Hoàng Thị Kim Chung em ơi, em sống khôn thác thiêng, em giúp gì cho Đời cho Đạo em nên giúp nha…

Cách nay hai năm, tôi có lần về thăm quê nhà, tôi ở Đà Lạt chỉ hai đêm có một buổi sáng đứng ngó lên Chùa Linh Phong, nghe tiếng boong boong của chuông Chùa, nghe tiếng trái tim tôi đập, hình như cũng boong boong …

   Trần Vấn Lệ

Đã xem 326 lần.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*